ĐIỀU KHOẢN THAM CHIẾU
Chuyên gia thực hiện điều tra khảo sát thu thập thông tin tại Đắk Nông và Gia Lai
1. Tổng quát
|
Nhiệm vụ: |
Tiến hành điều tra thu thập thông tin chung về các hộ sản xuất Cà phê Thu thập dữ liệu về tập quán canh tác, sử dụng đất và tuân thủ các quy định về môi trường, sản xuất Cà phê không gây mất rừng |
Vị trí: 02 tư vấn/chuyên gia trong nước
Thời gian làm việc: Tháng 01và 02 năm 2025.
Khu vực làm việc: Tỉnh Đắk Nông và Gia Lai
Báo cáo: Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD)
2. Bối cảnh
Ngày 06/12/2022, Ủy Ban châu Âu đã thông qua quy định các sản phẩm không gây mất rừng, suy thoái rừng được phép xuất nhập khẩu vào EU Viết tắt là EUDR (European Parliament, 2023). Sau khi được thông qua và đưa vào áp dụng, quy định sẽ đảm bảo rằng 07 hàng hóa chính được đưa vào thị trường EU là các mặt hàng không gây mất rừng và suy thoái rừng (Dürr et al.; European Parliament, 2023). Quy định này giúp ngăn chặn đáng kể tình trạng mất rừng và suy thoái rừng toàn cầu, giảm phát thải khí nhà kính và bảo tồn đa dạng sinh học. Khi EUDR chính thức có hiệu lực, tất cả các công ty có liên quan đến các mặt hàng này sẽ phải tiến hành thẩm định nghiêm ngặt khi nhập khẩu vào thị trường EU hoặc xuất khẩu từ thị trường EU (Cosimo et al., 2024; Li et al., 2024). EUDR yêu cầu các doanh nghiệp, người sản xuất (nông dân) sẽ phải chứng minh rằng các sản phẩm đều không gây mất rừng (được sản xuất trên đất không phải là đất rừng sau ngày 31 tháng 12 năm 2020) và hợp pháp (tuân thủ tất cả các luật hiện hành có liên quan có hiệu lực tại quốc gia sản xuất). Quy định này không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ đa dạng sinh học mà còn giúp đảm bảo sinh kế của hàng triệu người, bao gồm cả người dân và cộng đồng địa phương trên khắp thế giới, những người phụ thuộc nhiều vào hệ sinh thái rừng. Đây là một thách thức lớn cho xuất khẩu nông sản Việt Nam vào EU, trong đó có các sản phẩm càphê - mặt hàng chiếm 16,1% thị phần EU và 40% tổng lượng tiêu thụ cà phê của Việt Nam. Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về quy mô và năng suất cà phê. Diện tích và sản lượng cà phê có xu hướng tăng liên tục trong những năm gần đây. Năm 2022, diện tích trồng cà phê của cả nước là gần 700 nghìn ha, tổng sản lượng đạt hơn hai triệu tấn (GSO, 2023). Năng suất cà phê của Việt Nam đạt mức trung bình là 2,6 tấn/ha nhân đối với cà phê Robusta và 1,4 tấn nhân/ha đối với cà phê Arabica. Cà phê từ lâu đã trở thành một phần không thể tách rời của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp 3% vào GDP và khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu nông sản (Conway, 2020). Cà phê Robusta được trồng phổ biến ở Tây Nguyên, chiếm 95% sản lượng cà phê của Việt Nam (Kouadio etal., 2021). Cà phê đã và đang mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho 500 nghìn hộ dân (Phamet al., 2022).
Với vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế Việt Nam, việc tuân thủ EUDR vừa là cơ hội những cũng vừa là thách thức. Trong bối cảnh hơn 90% các hộ sản xuất cà phê là các hộ sản xuất quy mô nhỏ, diện tích bình quân dưới 2 ha (Hung Anh &Bokelmann, 2019), việc tuân thủ các quy định của EUDR là vấn đề cần được quan tâm nhằm đảm bảo cho ngành sản xuất cà phê Việt Nam được bền vững. Do đó, đánh giá khả năng tuân thủ của hộ sản xuất cà phê quy mô nhỏ đối với EUDR sẽ có một ý nghĩa quan trọng trong phát triển cà phê cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
Trước đó, nghiên cứu này đã được thực hiện tại 04 tỉnh: ĐắkLắk và Lâm Đồng ở vùng Tây Nguyên, Sơn La và Điện Biên ở vùng Tây Bắc. Việc thực hiện nghiên cứu tại 4 tỉnh này đã cung cấp một bức tranh tương đối tổng quát về khả năng tuân thủ của các hộ trồng cà phê Robusta và Arabica tại 02 vùng trồng cà phê chính ở Việt Nam. Tuy vậy, Robusta vẫn là cây cà phê chủ lực và phổ biến ở vùng Tây Nguyên-Việt Nam. Do vậy, để có được thông tin đầy đủ và mang tính đại diện cũng như làm sâu thêm các kết quả nghiên cứu trước đó, Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) tuyển chuyên gia để triển khai mở rộng nghiên cứu “Đánh giá khả năng tuân thủ của các hộ gia đình sản xuất cà phê đối với quy định trách nhiệm giải trình của EUDR” tại 2 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên là Đắk Nông và Gia Lai. Nghiên cứu này được tài trợ bởi dự án FGMC.
3. Mục tiêu và kết quả mong đợi của hoạt động
4. Nhiệm vụ và trách nhiệm của tư vấn
5. Phương pháp
Chương trình làm việc và kinh phí
6.1 Chương trình làm việc dự kiến
|
TT |
Hoạt động |
Số ngày tại |
Số ngày tại |
|
1 |
Thu thập thông tin thông qua công cụ phỏng vấn bảng hỏi tại thực địa |
29 ngày |
28 ngày |
|
2 |
Hoàn thiện báo cáo thu thập thông tin hiện trường |
1 ngày |
1 ngày |
|
|
Tổng số ngày làm việc |
30 ngày |
29 ngày |
6.2 Kinh phí
7. Yêu cầu đối với chuyên gia:
8. Hỗ trợ từ SRD
9. Thông tin liên hệ.
Chuyên gia quan tâm xin gửi hồ sơ đến: ông Hoàng Quốc Chính – Điều phối viên dự án theo địa chỉ email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. trước ngày 10 tháng 01 năm 2025